Đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn cho rằng, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam có ý nghĩa rất lớn, cho thấy một bước chuyển rất quan trọng trong tư duy làm chính sách: từ chỗ coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực cần được quan tâm, sang chỗ xác lập văn hóa như một lĩnh vực cần có cơ chế đặc thù, nguồn lực đặc thù, và cách tiếp cận phát triển đặc thù.
Tạo xung lực mới cho phát triển văn hóa nước nhà
Góp ý vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đại biểu Bùi Hoài Sơn (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nôi) bày tỏ đồng tình, đánh giá cao và ủng hộ việc ban hành Nghị quyết.
Theo đại biểu, đây là một dự thảo có ý nghĩa rất lớn, cho thấy một bước chuyển rất quan trọng trong tư duy làm chính sách: từ chỗ coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực cần được quan tâm, sang chỗ xác lập văn hóa như một lĩnh vực cần có cơ chế đặc thù, nguồn lực đặc thù, và cách tiếp cận phát triển đặc thù.
Dự thảo lần này đã đi vào khá đúng những điểm nghẽn của văn hóa hiện nay, từ nguồn lực đầu tư, đất đai, hạ tầng, công nghiệp văn hóa, nhân lực đặc thù, đến cơ chế đặt hàng sáng tạo và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

Phiên thảo luận tại Tổ 1 về Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam sáng 20/4.
Những nội dung như xác lập Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11, bảo đảm chi cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước, hình thành cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, cho phép PPP trong một số thiết chế văn hóa, hay chính sách đãi ngộ đối với nghệ sĩ, nghệ nhân, vận động viên, người làm nghề đặc thù… đều là những đề xuất rất đáng trân trọng và có thể tạo ra xung lực mới cho phát triển văn hóa nước nhà.
Dành một tỷ lệ nhất định trong tổng mức đầu tư các công trình để đầu tư cho các hạng mục văn hóa, nghệ thuật
Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng tình rất cao với dự thảo, đại biểu Bùi Hoài Sơn đề nghị cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra nghiên cứu bổ sung thêm một cơ chế mà theo đại biểu là rất cần thiết, rất thực tiễn, rất có ý nghĩa lâu dài đối với diện mạo văn hóa quốc gia, đó là chính sách dành một tỷ lệ nhất định, có thể là 1% tổng mức đầu tư của các công trình hạ tầng công cộng, các công trình xây dựng công sử dụng vốn nhà nước hoặc vốn nhà nước chi phối, để đầu tư cho các hạng mục văn hóa, nghệ thuật gắn với chính công trình đó.
Đại biểu Bùi Hoài Sơn cho rằng đây là một đề xuất không mới với thế giới, nhưng lại rất mới và rất cần đối với chúng ta hôm nay. Bởi lẽ, trong quá trình phát triển vừa qua, chúng ta đã dành rất nhiều nguồn lực cho giao thông, quảng trường, công viên, trường học, bệnh viện, nhà ga, sân vận động, trụ sở, khu đô thị, các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Điều đó là đúng và cần thiết. Nhưng có một thực tế là trong không ít trường hợp, chúng ta mới chú trọng đến công năng xây dựng mà chưa quan tâm đúng mức đến chiều sâu văn hóa và thẩm mỹ của không gian công cộng. Nhiều công trình có thể lớn, hiện đại, tốn kém, nhưng chưa tạo được dấu ấn thẩm mỹ, chưa truyền tải được tinh thần của nơi chốn, chưa góp phần nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ của người dân, và càng chưa mở ra nhiều cơ hội cho nghệ sĩ tham gia sáng tạo ngay trong quá trình kiến tạo diện mạo đô thị, nông thôn, đất nước.
Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia và thành phố đã đi trước chúng ta khá xa ở điểm này. Tại Pháp, chính sách “1% artistique” quy định chủ đầu tư công dành 1% chi phí xây dựng để đặt hàng hoặc mua một hay nhiều tác phẩm nghệ thuật được thiết kế riêng cho công trình công cộng; Bộ Văn hóa Pháp cũng xác định đây là một thủ tục đặt hàng nghệ thuật gắn với các công trình công. Tại New York, chương trình Percent for Art yêu cầu 1% ngân sách của các dự án xây dựng đủ điều kiện do thành phố tài trợ phải được sử dụng cho tác phẩm nghệ thuật công cộng; mục tiêu của chương trình là đưa nghệ sĩ vào ngay từ quá trình thiết kế để làm phong phú các công trình dân sự và cộng đồng. Philadelphia là thành phố tiên phong ở Hoa Kỳ, từ năm 1959 đã áp dụng mô hình 1% cho nghệ thuật đối với các công trình xây mới hoặc cải tạo lớn, và đến nay đã có hơn 650 tác phẩm nghệ thuật công cộng được hình thành từ chính sách này. Seattle cũng dành 1% vốn đầu tư xây dựng đủ điều kiện cho việc đặt hàng, mua sắm và lắp đặt tác phẩm nghệ thuật ở công viên, thư viện, trung tâm cộng đồng, đường phố, cầu và nhiều không gian công khác. Ngay cả Singapore cũng có cơ chế khuyến khích tích hợp nghệ thuật vào phát triển đô thị thông qua các ưu đãi quy hoạch, trong đó phần diện tích sàn thưởng cho tác phẩm nghệ thuật tích hợp có thể lên đến 1% tổng hệ số sàn quy định của dự án.
"Điều đáng nói là các quốc gia, thành phố đó không coi nghệ thuật công cộng là một phần trang trí phụ thêm, càng không phải thứ xa xỉ chỉ làm khi có dư tiền. Họ coi đó là một phần của chất lượng phát triển. Bởi một con đường không chỉ để đi lại, mà còn góp phần hình thành ký ức đô thị. Một bệnh viện không chỉ để chữa bệnh, mà còn cần đem lại sự an ủi, nhân văn và niềm tin. Một trường học không chỉ để dạy chữ, mà còn phải nuôi dưỡng cảm xúc và trí tưởng tượng. Một quảng trường, một công viên, một nhà ga, một cây cầu… nếu có sự hiện diện của nghệ thuật một cách tinh tế, bài bản, giàu bản sắc, thì nó không chỉ đẹp hơn, mà còn có hồn hơn, có câu chuyện hơn, có khả năng gắn kết cộng đồng mạnh hơn", đại biểu Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Đại biểu Bùi Hoài Sơn nêu ý kiến thảo luận.
Theo đại biểu Bùi Hoài Sơn, chúng ta đang nói rất nhiều đến công nghiệp văn hóa, đến thị trường nghệ thuật, đến phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đến xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đến nâng cao thẩm mỹ xã hội, đến xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, giàu bản sắc. Nhưng nếu không tạo ra đầu ra cho sáng tạo, không tạo ra không gian sống cho nghệ thuật, không tạo ra cơ chế đặt hàng thường xuyên, ổn định, minh bạch và gắn với các công trình công cộng, thì những mục tiêu đó sẽ rất khó chuyển hóa thành hiện thực. Nói cách khác, muốn phát triển thị trường nghệ thuật, chúng ta không thể chỉ nói đến triển lãm, đấu giá hay sưu tập tư nhân; mà cần mở một không gian rất quan trọng là nghệ thuật trong đầu tư công và trong hạ tầng công cộng.
Đại biểu Bùi Hoài Sơn đề nghị nghiên cứu theo hướng: đối với các công trình hạ tầng công cộng, công trình xây dựng công, công trình chỉnh trang đô thị, công viên, quảng trường, nhà ga, bến bãi, bệnh viện, trường học, thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, trung tâm thể thao, trụ sở cơ quan nhà nước, hoặc các dự án nhà ở xã hội, khu tái định cư quy mô lớn có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc vốn nhà nước chi phối, thì dành một tỷ lệ nhất định trong tổng mức đầu tư, có thể là 1%, để đầu tư cho các hạng mục văn hóa, nghệ thuật gắn với công trình. Các hạng mục này có thể bao gồm tượng đài, phù điêu, tranh tường, tranh kính, tranh ghép, sắp đặt nghệ thuật, điêu khắc ngoài trời, tác phẩm ánh sáng, tác phẩm tích hợp kiến trúc, các thiết kế mỹ thuật công cộng có giá trị thẩm mỹ và giá trị giáo dục văn hóa. Tùy quy mô, tính chất công trình, có thể quy định mức trần, mức sàn, hoặc phân nhóm công trình để bảo đảm khả thi.
Đại biểu nhấn mạnh, chính sách này không phải để “làm cho đẹp” theo nghĩa bề mặt mà có ít nhất bốn ý nghĩa rất lớn.
Thứ nhất, mở ra một thị trường nghệ thuật lành mạnh và bền vững hơn. Khi đầu tư công trở thành một kênh đặt hàng tác phẩm minh bạch, có tiêu chí, có hội đồng nghệ thuật, có đấu tuyển hoặc tuyển chọn công khai, thì nghệ sĩ có thêm cơ hội sáng tạo nghiêm túc, các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, chuyên gia mỹ thuật ứng dụng có thêm không gian nghề nghiệp, và thị trường nghệ thuật không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu ngắn hạn của khu vực tư nhân.
Thứ hai, nâng cao chất lượng thẩm mỹ của không gian sống. Một đất nước phát triển không chỉ được nhận diện bằng những con đường rộng hơn hay những tòa nhà cao hơn, mà còn bằng vẻ đẹp, sự hài hòa, chiều sâu văn hóa của những không gian công cộng mà người dân tiếp xúc mỗi ngày. Mỹ thuật công cộng chính là cách để cái đẹp đi vào đời sống thường nhật, làm cho người dân được sống trong một môi trường có giáo dục thẩm mỹ ngay từ những điều tưởng như bình thường nhất.
Thứ ba, góp phần kể câu chuyện Việt Nam qua hình ảnh, biểu tượng và bản sắc. Mỗi công trình công cộng đều có thể trở thành một nơi kể chuyện về lịch sử, văn hóa, con người, thiên nhiên, ký ức và khát vọng phát triển của từng địa phương, từng vùng đất. Tượng đài, tranh công cộng, thiết kế mỹ thuật không chỉ là vật thể, mà có thể trở thành biểu tượng nhận diện, thành niềm tự hào cộng đồng, thành điểm nhấn du lịch, thành dấu ấn văn hóa của một thành phố, một vùng quê, một quốc gia.
Thứ tư, tạo sự gắn kết giữa đầu tư hạ tầng với phát triển con người. Hạ tầng không chỉ phục vụ lưu thông vật chất, mà còn phải nuôi dưỡng đời sống tinh thần. Chúng ta đang hướng tới phát triển bền vững, phát triển có chiều sâu, phát triển con người toàn diện. Vậy thì mỗi công trình công cộng cũng cần đóng góp vào mục tiêu đó bằng cách dành một phần cho văn hóa, nghệ thuật.
Để tránh hình thức, lãng phí, hoặc làm méo mó mục tiêu ban đầu, đại biểu cho rằng nếu bổ sung chính sách này thì cũng cần thiết kế đi kèm một số nguyên tắc rất chặt chẽ: lựa chọn tác phẩm phải thông qua hội đồng chuyên môn có uy tín; ưu tiên sự phù hợp với công năng, không gian, lịch sử, cộng đồng; bảo đảm công khai, minh bạch; tránh chạy theo tượng đài to, hoành tráng mà thiếu giá trị nghệ thuật; khuyến khích nghệ sĩ trẻ, nghệ sĩ địa phương, nhưng vẫn phải bảo đảm chất lượng; đồng thời phải có cơ chế bảo trì, bảo dưỡng, khai thác tác phẩm lâu dài. Nghĩa là, 1% ấy không phải để chi tiêu thêm một khoản, mà là để đầu tư có văn hóa hơn, có chiều sâu hơn, có trách nhiệm hơn cho chính công trình mà chúng ta đang xây dựng.
Từ tinh thần đó, đại biểu Bùi Hoài Sơn đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung vào Dự thảo Nghị quyết một điều, hoặc một khoản, theo hướng quy định nguyên tắc: dành một tỷ lệ nhất định trong tổng mức đầu tư các công trình hạ tầng công cộng, công trình xây dựng công đủ điều kiện, để đầu tư cho các hạng mục văn hóa, nghệ thuật gắn với công trình, giao Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí áp dụng, tỷ lệ cụ thể, loại công trình, phương thức lựa chọn và cơ chế tổ chức thực hiện.
"Tôi tin rằng, nếu làm được điều này, chúng ta không chỉ có thêm một chính sách tốt cho văn hóa, mà còn có thêm một cách rất cụ thể để đưa văn hóa thấm vào phát triển. Đó cũng chính là tinh thần rất lớn của dự thảo Nghị quyết này: không coi văn hóa là phần đứng ngoài tăng trưởng, mà coi văn hóa là một nguồn lực nội sinh, một động lực phát triển, một yếu tố tạo nên chất lượng của quốc gia, của đô thị, của đời sống Nhân dân. Và biết đâu, từ chính những cây cầu, nhà ga, công viên, bệnh viện, trường học, quảng trường của hôm nay, chúng ta sẽ tạo nên những biểu tượng văn hóa mới của Việt Nam mai sau", đại biểu Bùi Hoài Sơn bày tỏ.

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung nêu ý kiến thảo luận.
Khuyến khích mạnh mẽ hơn khu vực tư nhân tham gia phát triển văn hóa
Tham gia ý kiến thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội) cho rằng, dự thảo hiện còn tập trung nhiều vào khu vực công, trong khi chưa làm rõ và nhấn mạnh vai trò của khu vực tư nhân. Đại biểu nêu quan điểm, phát triển văn hóa không chỉ dừng ở việc bảo tồn bản sắc mà nếu có cơ chế phù hợp, đây còn có thể trở thành nguồn thu cho ngân sách.
Theo đại biểu, các cơ chế khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển văn hóa chưa thực sự rõ ràng. Trong khi đó, khu vực này cần cơ chế hơn là hỗ trợ kinh phí, để có thể chủ động tham gia thiết kế, tổ chức các chương trình, sự kiện văn hóa, góp phần nâng cao bản sắc dân tộc. Từ đó, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các cơ chế đặc thù, vượt trội nhằm khuyến khích mạnh mẽ hơn khu vực tư nhân tham gia phát triển văn hóa.
Xuân Trường
VN
EN



